Chỉ xác (quả)

 

   Tên khác: Chỉ thực
   Quả chưa chín đã bổ đôi, phơi hay sấy khô của cây Cam chua: Citrus aurantium.
   Họ Cam: Rutaceae.
   Mô tả:
      - Chỉ xác hình bán cầu , đường kính 3 – 5cm, vỏ quả ngoài màu nâu thẫm, hoặc màu nâu, ở đỉnh có những điểm túi dầu dạng hạt trũng xuống, thấy rõ có vết vòi nhuỵ còn lại hoặc vết sẹo của cuống quả. Mặt cắt lớp vỏ quả giữa màu trắng vàng, nhẵn, hơi nhô lên dày 0,4 1,3 cm, có 1-2 hàng các túi  ở phần ngoài. Chất cứng, rắn, khó bẻ gãy. Ruột quả có từ 7 – 12 múi, một số quả có tới 15 – 16 múi, khô nhăn nheo, có màu từ nâu đến nâu thẫm, trong có hạt. Mùi thơm, vị đắng, hơi chua.
      - Chỉ Thực là quả non đã phơi hay sấy khô, thu hái từ nhữnchi_thuc_small.jpgg quả có đường kính trên 1cm, quả nhỏ hơn để nguyên.
   Thành phần hoá học:
      - Chỉ xác có Naringin, Methyl hesperidin.
      - Chỉ thực có Ancaloid, glycosid, saponin.
   Định tính : DĐVN III – Trang 335.
   Độ ẩm: Không quá 12% (PL 9.6 ).
   Tạp chất: Không quá 1% (PL 9.4)
   Bào chế: Loại bỏ tạp chất, rửa sạch, ủ mềm, thái lát mỏng. Sau khi làm khô rây bỏ ruột, hạt, mảnh vụn.
      + Chỉ xác sao cám: Cho cám vào nồi rang đến khi bốc khói, cho chỉ xác phiến vào sao đến khi có màu vàng thẫm, lấy ra, loại bỏ cám, để nguội. Cứ 10 kg chỉ xác dùng 1 kg cám.
   Bảo quản: để nơi khô, tránh mốc, mọt.
   Tính vị, quy kinh : 
      - Chỉ xác: Khổ, tân, toan, ôn
      - Chỉ thực: Khổ, tân,ôn. 
      - Vào các kinh: Tỳ, vị.
   Công năng: Hạ khí, tiêu tích trệ, thông trường, trừ đờm, tiêu thực (sao giòn), cầm máu(sao tồn tính)
   Chủ trị: Ngực sườn khí trệ, đầy trướng, đau, sa dạ dày, sa trực tràng( lòi dom), sa dạ con. Đánh trống ngực,bệnh thần kinh gây mất ngủ, trằn trọc ban đêm, động kinh, đau nửa đầu, ho đờm, tiểu tiện khó.
   Liều dùng: 3-9g/ ngày.
   Kiêng kỵ: Phụ nữ có thai, người gầy yếu quá, tỳ vị hư hàn mà không có thấp và tích trệ không nên dùng.