PHƯƠNG PHÁP PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ 

 

 

I. MỞ ĐẦU BỆNH UNG THƯ

Bệnh ung thư, có thể cứ nhắc đến nó là làm người ta có cảm giác sợ hãi. Bình thường thì chúng ta cứ sống vô tư không phải lo nghĩ gì đến căn bệnh quái ác đó, nhưng nếu chẳng may căn bệnh đó xuất hiện thì thật là phiền phức. Vậy chúng ta có nên tìm hiểu xem nguyên nhân gì gây bệnh, cách phòng nó như thế nào, cách điều trị ra sao. Sau khi tìm hiểu kỹ rồi tôi thiết nghĩ các bạn sẽ không còn sợ hãi nữa. Sau đây chúng ta cùng bớt chút thời gian để tìm hiểu về bệnh ung thư.
Ở Việt Nam, bệnh Ung thư và bệnh tim mạch là bệnh nguy hiểm nhất và đang là nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở các đô thị lớn hiện nay, đặc biệt là các vùng bị ô nhiễm nặng. Theo thống kê của Bệnh viện K, mỗi năm Việt Nam có khoảng 150.000 ca mắc ung thư mới và có khoảng 75.000 ca tử vong.
Bệnh Ung thư là căn bệnh của tế bào. Cơ thể con người mỗi ngày có hàng tỉ tế bào mới được sinh ra để thay thế tế bào cũ già cỗi chết đi. Nhưng do các quá trình sinh hóa làm rối loạn sự phân chia tế bào mới đã tạo ra các tế bào đột biến. Khi cơ thể người khỏe mạnh thì các tế bào đột biến này bị sức đề kháng của cơ thể tiêu diệt, nhưng khi cơ thể bị suy yếu thì lập tức các tế bào đột biến này không còn sự kiềm chế nữa và sinh sôi nảy nở rất nhanh không có sự kiểm soát. Sự phát triển vô tổ chức này dẫn tới hình thành các khối u ở các bộ phận, sau đó nó sẽ di căn ra các bộ phận khác gây nên sự đau đớn rất mạnh cho người bệnh. Các bộ phận cơ thể của người bệnh bị phá hủy và sẽ chết. Vậy bệnh ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, trong đó các tế bào bị biến đổi, tăng sinh vô hạn không chịu sự kiểm soát của cơ thể.
Bệnh ung thư không phải là không chữa được, nếu biết phòng sớm và chữa trị đúng cách thì vẫn có thể khỏi được và duy trì sự sống lâu dài. Người mắc ung thư không nên có tâm lý bi quan về bệnh này mà phải luôn tin tưởng, lạc quan vào cuộc sống, quyết tâm chống lại bệnh tật.

II. NGUYÊN NHÂN GÂY UNG THƯ

Nguyên nhân gây ung thư hay nói cách khác nguyên nhân gây nên sự đột biến và phát triển mất kiểm soát của các tế bào ung thư, tóm lại có các nguyên nhân sau:

1. Nhóm Bức xạ

a) Bức xạ ion hóa
Bức xạ ion hóa là tia phóng xạ phát ra từ các chất phóng xạ tự nhiên hoặc các nguồn phóng xạ dùng trong khoa học, y học có khả năng ion hóa vật chất. Các cơ quan dễ bị ung thư do ion hóa là ung thư tuyến giáp, ung thư phổi, ung thư máu, ung thư tủy xương. Các nguồn bức xạ ion trong tự nhiên gồm các nguyên tố phóng xạ, hậu quả của các sự cố hạt nhân. Các nguồn bức xạ ion nhân tạo gồm có máy chụp X quang, các lò phản ứng hạt nhân, máy gia tốc hạt.
b) Bức xạ cực tím
Tia cực tím có trong ánh sáng mặt trời chủ yếu gây ung thư da. Cường độ chiếu sáng của mặt trời mạnh nhất trong mùa hè từ 11 giờ sáng đến 15 giờ chiều. Chính vì vậy phải dùng các vật bảo vệ như mũ, áo dài tay.

2. Nhóm các chất hóa học và môi trường

a) Thuốc lá
Trong khói thuốc lá chứa hơn 4.000 loại hóa chất, trong đó hơn 200 loại có hại cho sức khỏe con người. Hút mỗi điếu thuốc lá làm giảm tuổi thọ khoảng 5,5 phút. Thuốc lá là nguyên nhân khoảng 30% tổng số các trường hợp ung thư, trong đó chủ yếu là ung thư phổi, ung thư hạ họng thanh quản, ung thư thực quản, ung thư cổ tử cung, ung thư tụy, ung thư đường tiết niệu. Riêng ung thư phổi thì thuốc lá là nguyên nhân của 90% trường hợp.
b) Chế độ ăn và ô nhiễm thực phẩm
Dưa muối mà đặc biệt là dưa khú có hàm lượng nitrit rất cao. Nitrit sẽ tác dụng với amin bậc 2 tạo thành hợp chất nitrosamin, đây là chất gây ung thư mạnh. Vì thế không nên ăn dưa khú với các thức ăn giàu đạm.
Benzopyrene được tạo ra khi thịt được nướng bằng than hoặc xông khói, nó cũng được tạo ra khi rán thức ăn bằng dầu/mỡ đã sử dụng. Đây cũng là chất gây ung thư mạnh trên thực nghiệm. Vì vậy nên hạn chế dùng thịt nướng, thịt hun khói hay đồ chiên rán.
Nấm mốc ở gạo và lạc tiết ra chất độc có tên aflatoxin gây ung thư gan. Chế độ ăn nhiều mì chính, ăn mặn cũng là yếu tố gây ung thư đặc biệt là ung thư đường tiêu hóa và ung thư dạ dày.
Uống nhiều rượu gây suy giảm chức năng gan, gián tiếp gây bệnh xơ gan và ung thư gan. Uống rượu cũng góp phần làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày, ung thư vòm họng, ung thư thực quản.
Chế độ ăn nhiều chất béo động vật gây tăng nguy cơ ung thư vú, ung thư tiền liệt tuyến và ung thư đại trực tràng, trái lại chế độ ăn nhiều rau xanh, hoa quả và nhiều chất xơ sẽ làm giảm nguy cơ các ung thư này.
Chế độ ăn uống thiếu chất trong thời gian dài cũng làm cho cơ thể bị suy giảm sức đề kháng, là nguyên nhân dẫn đến khoảng 90% bệnh tật. Ví dụ:
+ Thiếu Canxi có thể dẫn tới 147 loại bệnh khác nhau trong đó có bệnh  thoái hóa xương khớp, trẻ em còi xương chậm lớn.
+ Thiếu Kẽm và vitamin E dẫn tới yếu sinh lý và suy giảm chức năng sinh sản.
+ Thiếu Crom dẫn tới bệnh tiểu đường
+ Thiếu Selen làm tăng nguy cơ bị bệnh tim.
+ Thiếu Sắt dẫn tới thiếu máu, phụ nữ mang thai dễ bị thai lưu, sảy thai.
+ Thiếu axit Folic dẫn tới thiếu máu, trẻ sơ sinh dễ bị mắc bệnh tim bẩm sinh.
Các loại thực phẩm hiện nay được nuôi trồng trong môi trường không sạch, sử dụng quá nhiều thuốc sâu, thuốc diệt cỏ, phân đạm hóa học làm dư lượng hóa chất quá cao trong thực phẩm. Các sản phẩm vật nuôi thì lạm dụng các chất hocmon tăng trưởng, chất kháng sinh, các chất tạo nạc. Các thức ăn chế biến sẵn lạm dụng các hóa chất tạo màu, chất bảo quản, phụ gia. Tóm lại, nguồn thức ăn của chúng ta đang ẩn chứa rất nhiều các chất độc hại nguy hiểm.
c) Ô nhiễm môi trường
Các môi trường chủ yếu mà con người buộc phải tiếp xúc đó là không khí, nước uống. Ô nhiễm khói bụi do các phương tiện giao thông, khói bụi công nghiệp. Nguồn nước bị ô nhiễm do nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt chứa nhiều hóa chất độc hại, kim loại nặng, vi sinh vật có hại với hàm lượng cao.

3. Các loại virus và các tác nhân sinh học

a) Virus viêm gan B
Virus viêm gan B thường lây truyền qua đường truyền máu, dùng chung bơm kim tiêm, mẹ truyền sang con trong thời kỳ mang thai, quan hệ tình dục với người mang loại virus này.
Virus viêm gan B xâm nhập vào cơ thể qua thời gian dài sẽ dẫn đến hai biến chứng là sơ gan và ung thư tế bào gan. Tuy nhiên chỉ có một số lượng nhỏ biến chứng tùy thuộc chủng virus đó có phải là ác tính hay không. Cách an toàn là chúng ta nên đi tiêm chủng phòng viêm gan B và duy trì men gan ổn định.
b) Virus gây u nhú
Virus gây u nhú ở người (HPV) đã được chứng minh là gây ung thư cổ tử cung và liên quan đến các ung thư vùng sinh dục ngoài của nam và nữ. Virus này lây qua đường tình dục là chủ yếu. Hiện nay, vacxin phòng loại virus này đã được áp dụng tiêm phòng ung thư cổ tử cung.
c) Vi khuẩn Helicobacter Pylori (HP)
Có mối liên quan giữa vi khuẩn HP với bệnh đau dạ dày và ung thư dạ dày. Viêm loét dạ dày lâu ngày là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới ung thư dạ dày.

4. Các nguyên nhân bênh trong

a) Di truyền
Nguyên nhân này chỉ ra một tỉ lệ nhất định số người mắc ung thư là do gen di truyền của gia đình đã có các gen đột biến gây ung thư. Tuy nhiên tỉ lệ bệnh nhân mắc ung thư do gen là không lớn mà chủ yếu từ các nguyên nhân bên ngoài tác động và cơ thể người.
b) Yếu tố nội tiết
Rối loạn nội tiết cũng làm tăng khả năng bị ung thư. Việc dùng thuốc nội tiết trong thời kỳ mang thai nhằm mục đích dưỡng thai cho phụ nữ dễ xảy thai dễ làm tăng nguy cơ mắc ung thư âm đạo ở các bé gái sau khi ra đời. Dùng lâu dài thuốc nội tiết sau mãn kinh để ngừa loãng xương làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Tình trạng giảm nội tiết tố sinh dục nam làm tăng nguy cơ mắc bệnh phì đại tiền liệt tuyến và ung thư tiền liệt tuyến. Nam giới tuổi càng cao thì tỉ lệ mắc bệnh phì đại tiền liệt tuyến càng lớn.
Quan sát trên thực tế, ung thư vú phát triển mạnh ở người có thai và cho con bú. Ung thư vú dạng viêm ở những phụ nữ này rất ác tính, di căn sớm và khả năng tử vong cao.

5. Căng thẳng thần kinh triền miên

Căng thẳng thần kinh là một trạng thái bất lợi cho cơ thể, làm cơ thể bị suy giảm sức đề kháng rất mạnh. Các dấu hiệu của căng thẳng thần kinh gồm:
- Đau đầu, mất ngủ thường xuyên, ngủ không sâu giấc.
- Áp lực công việc, học tập, thường xuyên lo lắng, sợ hãi.
- Mâu thuẫn tình cảm, uất hận, buồn bã, cáu giận.
Stress trầm trọng và kéo dài có thể làm tổn hại hệ miễn dịch và các chức năng sinh lý khác, làm suy yếu khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể cũng như sự xâm nhập của vi trùng và làm tăng nguy cơ tử vong.

Uất hận, buồn bã, nóng giận làm khí huyết ngưng trệ, tân dịch kết cứng làm tích tụ dịch đàm trong cơ thể, lâu dần biến thành các khối u, các khối này lâu dần biến chứng thành khối u ác tính là ung thư.
Đây không phải là nguyên nhân trực tiếp nhưng là nguyên nhân gián tiếp, bởi vì khi sức đề kháng suy giảm thì lập tức các tế bào đột biến có cơ hội phát triển mạnh hơn, tấn công dễ dàng vào các tổ chức yếu nhất của cơ thể hình thành các khối u.
 

III. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA BỆNH UNG THƯ

1. Giai đoạn ủ bệnh và tiến triển ung thư

Trong suốt cuộc đời, các tế bào của con người thường có sự sai lạc và có sự sửa chữa. Sự sai lạc tế bào này từ nhẹ đến nặng. Các tế bào ung thư xuất hiện từ 6 đến hơn 10 lần trong đời mỗi người. Nếu nhẹ, cơ thể sẽ tự sửa chữa những hỏng hóc này. Nếu biến đổi nặng hơn đến mức ác tính, cơ thể không tiêu diệt được những tế bào này, tuy vậy vẫn có thể kiềm chế sự phát triển của chúng. Tuy nhiên, có những thời điểm cơ thể không kiềm chế được nữa thì lập tức các tế bào ác tính phát triển với tốc độ rất cao tạo thành các khối u, khối u này gọi là u nguyên phát.
Ở giai đoạn tiếp theo, các tế bào ác tính sẽ nhân lên, bành trướng ra xung quanh, số lượng tăng lên từ 1.000 tế bào lên 1.000.000 tế bào. Với số lượng như vậy, tuy đã tạo thành khối u nhưng cũng có rất nhỏ để có thể phát hiện bằng các phương tiện hiện nay. Tất cả quá trình trên chiếm tới 75% thời gian phát triển của bệnh ung thư, trung bình 15-20 năm. Một số ít ung thư có quá trình này ngắn hơn nhưng cũng có loại có thời gian dài hơn.
Tiếp theo các khối u ác tính xâm lấn xung quanh do các tế bào ung thư có khả năng di động dễ dàng và khối u có khả năng làm tiêu đạm vùng xung quanh làm cho vùng này lỏng lẻo hơn. Các vùng di căn sẽ hình thành các khối u mới có đặc tính giống khối u nguyên phát.
Các tế bào ung thư có thể di căn theo các cách sau:
Thứ nhất, tế bào ung thư đi vào máu, trôi theo dòng máu và mắc lại ở một nơi nào đó (thường là các mạch máu nhỏ) và sinh sôi tăng trưởng ở đó. Phổi và gan là những nơi có mạng lưới mạch máu dày đặc nên những nơi này hay bị di căn nhất.
Con đường thứ hai là bạch huyết. Hệ bạch huyết là một mạng lưới gồm các ống chia nhánh giống như mạch máu, toả đi khắp cơ thể, gọi là bạch mạch có chất dịch gần như trong suốt lưu thông ở trong, có nhiệm vụ chính bảo vệ cơ thể. Dọc đường đi của bạch mạch có các hạch bạch huyết nhỏ hình hạt đậu. Tế bào ung thư tách khỏi khối u nguyên phát có thể xâm nhập vào mạng lưới bạch mạch rồi mắc lại ở các hạch bạch huyết. 
Ung thư có thể di căn theo các lối ít bị cản trở vào các hốc, ống trong cơ thể. Ví dụ ung thư dạ dày có thể di căn xuống ruột, rơi vào ổ bụng gây di căn ở buồng trứng.
Ung thư có thể di căn do kỹ thuật mổ không đúng. Một con dao mổ ngang qua khối u dính đầy các tế bào ung thư, nếu chạm vào tế bào lành sẽ cấy các tế bào ung thư lên các mô đó.
Như vậy, các tế bào ác tính luôn tồn tại trong mỗi người nhưng có phát tác thành bệnh ung thư hay không còn phụ thuộc vào sức đề kháng của cơ thể. Khi chúng ta khoẻ thì các mầm bệnh mới mọc lên sẽ bị tiêu diệt ngay lập tức, do đó Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Phòng chống ung thư không phải là chỉ ngăn chặn khối u nguyên phát mà phải ngăn chặn cả sự di căn của nó.

2. Các dấu hiệu cảnh báo ung thư

1. Các vết viêm loét lâu liền
2. Ho dai dẳng kéo dài, điều trị không đỡ
3. Chậm tiêu, khó nuốt
4. Thay đổi thói quen bài tiết phân và nước tiểu
5. U ở vú hay bộ phận trên cơ thể
6. Hạch to lên không bình thường
7. Chảy máu và dịch ra bất thường
8. Ù tai, nhìn đôi
9. Gầy sút cân nhanh không rõ nguyên nhân
Nếu gặp các dấu hiệu trên cũng không khẳng định được người đó có bị ung thư không nên cần có xét nghiệm ung thư để biết chính xác, đồng thời có các biện pháp phòng bệnh trước, nếu coi thường bệnh tật dẫn đến ung thư rồi sẽ càng khó hơn.

3. Đặc điểm của tế bào ung thư

Muốn tiêu diệt được tế bào ung thư thì phải hiểu được đặc điểm của nó:
- Tế bào ung thư rất phàm ăn, chúng hút dinh dưỡng của cơ thể làm cơ thể suy kiệt rồi chết. Do vậy cách hiệu quả ngăn chặn sự nhân lên mạnh mẽ của tế bào ung thư là ngăn chặn các nguồn dinh dưỡng của nó.
- Tế bào ung thư khi phân chia sẽ tạo ra các chất nội tiết không cần thiết gây rối loạn chuyển hoá, làm cơ thể mệt mỏi, chán ăn, suy giảm các chức năng của các bộ phận. Ung thư gây ra chứng suy mòn, đó là sự sụt cân rất nhanh trong thời gian ngắn. Nó làm tiêu biến các khối cơ xương của người bệnh. Ung thư cũng gây trục trặc hệ thống miễn dịch, giảm khả năng chống lại các bệnh nhiễm trùng.
- Tế bào ung thư không phát triển mạnh trong môi trường oxy hóa. Tập thể dục hằng ngày, hít thở sâu sẽ cung cấp nhiều oxy đến tế bào. Liệu pháp oxy hóa cũng là một phương pháp khác để tiêu diệt tế bào ung thư. Đồng thời chúng ta sẽ sử dụng các chất chống oxy hoá mạnh để đẩy nhanh tốc độ tiêu diệt tế bào ung thư.
- Vỏ tế bào ung thư được cấu thành từ protein. Bằng cách ăn ít thịt sẽ làm cho các enzym được giải phóng nhiều hơn để tấn công lớp vỏ protein của tế bào ung thư cho phép các tế bào miễn dịch phá hủy tế bào ung thư.
- Tế bào ung thư bị ngừng phát triển trong môi trường kiềm, ngược lại phát triển mạnh trong môi trường axit. Độ pH trên 7,4 tế bào ung thư ngừng phát triển, pH >8,5 thì tế bào ung thư chết còn tế bào lành vẫn sống.
- Tế bào ung thư có thể di căn sang khu vực khác và tạo thành các ổ di căn mới.


IV. PHƯƠNG PHÁP PHÒNG BỆNH UNG THƯ

Đối với từng loại nguyên nhân sẽ có cách phòng chống khác nhau nhưng về nguyên lý cơ bản là:
- Hạn chế độc tố và đào thải độc tố
- Bổ sung cân bằng dinh dưỡng
- Chống oxy hóa và các gốc tự do
- Tăng cường sức đề kháng
- Chống căng thẳng thần kinh

 

1. Hạn chế độc tố và đào thải độc tố

Như phân tích ở trên, cơ thể con người liên tục bị nhiễm độc từ bên ngoài, đồng thời chính trong quá trình hoạt động cơ thể cũng tự sản sinh ra các chất độc hại. Quá trình phát triển của tế bào ung thư cũng sản sinh ra các chất độc nguy hiểm, như ở phần III đã phân tích. Chính vì vậy việc đầu tiên là phải làm sạch từng tế bào của cơ thể bằng cách đào thải các độc tố ra ngoài. Nếu chúng ta dùng thực phẩm không sạch, hít không khí bị ô nhiễm, uống nước có nhiễm nhiều tạp chất, chúng ta không tránh khỏi nó nhưng chúng ta biết cách hạn chế nó và đào thải nó ra ngoài.
Hạn chế các nguồn độc tố gồm:
- Hạn chế hút thuốc lá hoặc hít phải khói thuốc thụ động.
- Dùng các nguồn thực phẩm sạch.
- Sử dụng nguồn nước đảm bảo.
- Hạn chế các nguồn khói bụi, ô nhiễm không khí.
- Có thói quen sinh hoạt hợp lý, hạn chế rượu bia, kiểm soát cân nặng.
Đào thải độc tố gồm các cách sau:
Có rất nhiều loại thảo dược thiên nhiên giúp con người đào thải độc tố hiệu quả. Ví dụ cây móng mèo ở Nam Mỹ, các loại tảo biển. Ở Việt Nam có nhiều loại cây như cây Diệp hạ châu, cây Kim ngân, Bồ công anh, cây Giảo cổ lam, cây Xạ đen, cây Thông đỏ, cây Bán chỉ liên, cây Bạch hoa xà, cây Trinh nữ hoàng cung .v.v. Sử dụng các loại thảo dược này thường xuyên với liều lượng nhất định sẽ giúp cơ thể thanh lọc các chất độc tố nhanh hơn, mạnh hơn.

2. Bổ sung cân bằng dinh dưỡng

Tại sao lại cần bổ sung cân bằng dinh dưỡng? Bởi lẽ cơ thể con người là một cỗ máy sinh học, nó cần nguyên liệu để sống và làm việc một cách hoàn hảo. Con người cần hơn 90 loại vitamin, axit amin và khoáng chất để duy trì sự hoạt động bình thường, do vậy nếu thiếu đi các chất thiết yếu này thì cơ thể sẽ dần dần bị rối loạn trao đổi chất, dẫn tới suy yếu và bệnh tật. Bổ sung dinh dưỡng làm cho các quá trình trao đổi chất trong cơ thể được vận hành bình thường, tăng cường sức đề kháng, hạn chế các nguy cơ bệnh tật do thiếu chất.
Các hãng thực phẩm chức năng hiện nay đều đã nghiên cứu và đưa ra các công thức bổ sung dinh dưỡng phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng với giá cả rất hợp lý. Các bạn muốn biết rõ hơn sự thiếu chất tác động như thế nào đến sức khỏe và bệnh tật của con người, xin hãy tìm hiểu tác phẩm “Sự trung thực của xác chết” của Tiến sĩ y học Walloc người Mỹ, đạt giải Nobel về y học về công trình nghiên cứu nguyên nhân bệnh tật của con người do thiếu chất. Nhiều người cho rằng dinh dưỡng không phải là thuốc nên không có tác dụng chữa bệnh, nhưng nếu thiếu nó sẽ gây ra bệnh, vậy thì có nên dùng liệu pháp về dinh dưỡng không?

3. Chống oxy hóa và các gốc tự do

Các chất oxy hóa và các gốc tự do tấn công vào tế bào làm sai lệch mã gen, làm tế bào bị già nhanh và yếu đi. Vậy nếu muốn tế bào không bị đột biến thành tế bào ung thư thì phải hạn chế các gốc tự do và các chất oxy hóa. Chống gốc tự do sẽ làm giảm nguy cơ gây đột biến gen ở tế bào, giúp tế bào trẻ lâu.
Các chất chống oxy hóa và gốc tự do rất đa dạng và phong phú, có thể kể đến các nhóm vitamin A, C, E, các chất chiết suất từ vỏ và hạt nho, cây thông đỏ, các loại tảo biển, tinh chất curcumin chiết suất từ nghệ vàng, khoáng chất như Kẽm và Selen. Tóm lại trên thị trường hiện nay có rất nhiều sản phẩm giúp chống oxy hóa và gốc tự do.

4. Tăng cường sức đề kháng

Có thể so sánh sức đề kháng của cơ thể giống như một chiếc áo giáp để cơ thể tự bảo vệ. Lấy ví dụ đơn giản như sau: Gặp thời tiết bất lợi, người có sức đề kháng tốt sẽ không cảm thấy gì hoặc chỉ cảm thấy hơi mệt mỏi một chút. Người có sức đề kháng kém sẽ dễ mắc các bệnh như đau đầu, sổ mũi, cảm cúm, đau nhức chân tay.v.v. Đó là biểu hiện bên ngoài dễ nhận thấy, còn biểu hiện bên trong thì khi sức đề kháng kém, các tế bào đột biến có cơ hội phát triển nhanh hơn và ít bị tiêu diệt bởi hệ thống phòng vệ, từ đó ngày càng tích lũy những ổ gây bệnh nguy hiểm. Đối với các nguyên nhân do virus như viêm gan B, virus gây ung thư cổ thư cung, hiện nay đã có vacxin để phòng. Chính vì vậy tăng cường sức đề kháng là biện pháp quan trọng giúp phòng ngừa và điều trị bệnh ung thư.
Các chất bổ sung hệ thống miễn dịch (IP6, Flor-ssence, Essiac, chất chống oxy hóa, vitamin, khoáng chất, các chất EFA...) sẽ kích hoạt các tế bào miễn dịch phá hủy các tế bào ung thư. Các chất bổ sung khác như vitamin E được biết như là chất chống lại quá trình chết hoặc chết lập trình của tế bào - phương pháp đào thải các tế bào độc hại hoặc không cần thiết của cơ thể.
Có nhiều loại thảo dược giúp tăng cường sức đề kháng như: Xạ đen, linh chi, cây thông biển, giảo cổ lam .v.v. Gần đây người ta còn chiết suất một hợp chất gọi là Beta Glucan có tác dụng tăng cường sức đề kháng rất tốt.

5. Chống căng thẳng thần kinh

Căng thẳng thần kinh là nguyên nhân gián tiếp gây ra các bệnh trong đó có bệnh ung thư. Hậu quả của căng thẳng thần kinh làm suy giảm sức đề kháng, gây rối loạn các quá trình trao đổi chất trong cơ thể. Giảm bớt căng thẳng thần kinh sẽ giúp cơ thể tăng cường sức đề kháng, giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh nguy hiểm, phục hồi nhanh trong và sau quá trình điều trị bệnh. Liệu pháp chống căng thẳng thần kinh gồm có:
- Chế độ sinh hoạt hợp lý, hạn chế các áp lực lên hệ thần kinh trung ương.
- Luyện tập thể thao đều đặn trong đó Yoga là một biện pháp tốt.
- Thiền định là một biện pháp tuyệt vời để tự điều chỉnh tâm lý bản thân.
- Sử dụng các loại thảo dược giúp chống căng thẳng thần kinh giúp an thần nhẹ nhàng, tạo giấc ngủ sinh lý.
Tóm lại, nếu chúng ta sử dụng các phương pháp phòng chống nêu trên thì không những phòng các bệnh khác mà ung thư sẽ không có cơ hội phát triển. Tuổi thọ, sắc đẹp sẽ được kéo dài.

 

V. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

1. Phương pháp theo Tây y

1.1. Phẫu thuật

Phẫu thuật cắt bỏ là phương pháp can thiệp ngoại khoa cắt bỏ khối u khỏi cơ thể. Phương pháp này chỉ áp dụng được ở giai đoạn đầu khi khối u chưa có biểu hiện di căn, sau khi phẫu thuật cũng vẫn phải hóa trị tăng cường để kiềm chế sự di căn của khối u sang các khu vực khác. Thực tế điều trị cho thấy nếu phát hiện ung thư ở giai đoạn I và II thì tỉ lệ khỏi sau phẫu thuật có thể đạt tới 90%.
Đối với những bệnh nhân đến bệnh viện quá muộn, khối u lớn và thể trạng rất yếu thì các bác sĩ không dám phẫu thuật, tỉ lệ thành công của phẫu thuật sẽ không cao.
Trường hợp không thể phẫu thuật thì buộc bệnh nhân phải dùng hoá trị hoặc xạ trị, bệnh nhân phải mang khối u trong suốt quá trình điều trị. Nếu thể trạng bệnh nhân quá yếu thì hoá trị càng làm cơ thể bệnh nhân suy kiệt dẫn tới thời gian sống bị giảm đi.

1.2. Hóa trị

Hóa trị là sử dụng hóa chất đưa vào cơ thể người nhằm mục đích phong tỏa tế bào ung thư, cô lập và tiêu diệt nó. Mỗi đợt hóa trị chỉ tiêu diệt một tỉ lệ nhất định các tế bào ung thư, nếu khối u quá to thì hóa trị sẽ không hiệu quả bởi vì tốc độ sản sinh tế bào ung thư mới quá nhanh so với số lượng bị diệt. Phương pháp này có tác dụng phụ là đồng thời trong quá trình diệt tế bào ung thư thì tế bào khỏe cũng bị ảnh hưởng, bởi vì hóa chất đưa vào cơ thể là một loại chất độc đối với tế bào khỏe. Chính vì thế trong quá trình hóa trị, sức đề kháng đã bị giảm sút, đồng thời các mô lành cũng bị ảnh hưởng. Hoá trị làm tổn thương các tế bào khoẻ mạnh như tuỷ xương, dạ dày, ruột.
Tác dụng phụ trước mắt: nôn và buồn nôn; giảm các tế bào tạo huyết như hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu; rối loạn tiêu hoá gây chán ăn, tiêu chảy hoặc táo bón; trên hệ lông tóc móng gây rụng tóc, sạm da…; trên hệ thần kinh gây tê đầu chi, giảm thính lực; phụ nữ rối loạn kinh nguyệt, vô kinh, .v.v.
Tác dụng phụ lâu dài: vô sinh, ung thư thứ phát, đột biến di truyền cho thế hệ sau, suy tim, xơ phổi, .v.v.
Người bệnh sẽ bị suy giảm sức khỏe khá nhiều khi sử dụng phương pháp hóa trị. Người bệnh phải chuẩn bị tinh thần trước khi sử dụng hóa trị liệu.

1.3. Xạ trị

Xạ trị là sử dụng chùm năng lượng cao (tia Gama, tia X, tia β, các tia phóng xạ dạng hạt) chiếu vào khối u để điều trị ung thư, làm giảm kích thước khối u.
Phương pháp này cũng gây tác dụng phụ lớn và nhiều khi không tiêu diệt hết được khối u mà lại ảnh hưởng đến các tế bào lành. Cụ thể là: Lượng bạch cầu và hồng cầu giảm, vùng chiếu tia bị tổn thương.
Tóm lại, Tây y sử dụng tổng hợp các phương pháp trên đã đưa lại kết quả chữa trị khá tốt, nếu phát hiện càng sớm thì tỉ lệ chữa khỏi càng cao. Bởi lẽ khi phát hiện sớm thì sức tấn công của tế bào ung thư còn yếu, trong khi đó sức đề kháng của cơ thể còn khỏe. Tuy nhiên người bệnh sẽ bị hao tổn sức khỏe và giảm tuổi thọ do phải phẫu thuật, xạ trị và hóa trị. Điều trị bằng hóa trị và xạ trị làm giảm kích thước khối u, nhưng sử dụng hóa trị và xạ trị trong thời gian dài sẽ không có kết quả trong việc phá hủy các khối u lớn. Khi cơ thể có quá nhiều chất độc từ hóa trị và xạ trị làm hệ thống miễn dịch bị tổn hại hoặc bị phá hủy, vì vậy con người không thể chống chọi với các sự nhiễm trùng và biến chứng.
Một thực tế cho thấy, kể cả bệnh nhân đã điều trị khỏi bằng Tây y, sau một thời gian trong vòng 5 năm, nếu không có các biện pháp phòng ngừa thì tỉ lệ tái phát và biến chứng rất cao, khi đó bệnh sẽ chuyển biến nặng và rất nhanh.
Vậy làm thế nào để vừa tiêu diệt tế bào ung thư mà tế bào lành ít bị tổn thương, làm thế nào để sức đề kháng của cơ thể tăng lên, phương pháp nào vừa an toàn, vừa không có tác dụng phụ, xin mời quý vị hãy nghiên cứu tiếp.

2. Phương pháp dinh dưỡng cân bằng

2.1. Phương pháp thực dưỡng

Tại sao lại sử dụng phương pháp thực dưỡng?
Các loại thực phẩm bệnh nhân ung thư không nên ăn:
- ĐƯỜNG là một loại thực phẩm của bệnh ung thư. Không tiêu thụ đường là cắt bỏ một trong những nguồn quan trọng nhất của các tế bào ung thư. Có sản phẩm thay thế đường như saccharin, nhưng chúng được làm từ Aspartame và rất có hại. Tốt hơn nên thay thế đường bằng mật ong Manuka hay mật đường nhưng với số lượng nhỏ. Muối có chứa một hóa chất phụ gia để xuất hiện màu trắng. Một lựa chọn tốt hơn cho muối trắng là muối biển hoặc các loại muối thực vật.
- SỮA  làm cho cơ thể sản xuất chất nhầy, đặc biệt là trong đường ruột. Tế bào ung thư ăn chất nhầy. Loại bỏ sữa và thay thế bằng sữa đậu nành, các tế bào ung thư không có gì để ăn, vì vậy nó sẽ chết.
- Các tế bào ung thư trưởng thành trong môi trường axit. Một chế độ ăn uống là THỊT Đỏ có tính axit, tốt nhất là ăn cá, và một chút thịt gà thay vì thịt bò hay thịt heo. Hơn nữa, thịt chứa kháng sinh, hormon và ký sinh trùng, rất có hại, đặc biệt đối với những người mắc bệnh ung thư. Protein thịt khó tiêu hóa và đòi hỏi nhiều enzym. Thịt không tiêu hóa ở lại và hư hỏng trong cơ thể dẫn tới tạo ra các độc tố nhiều hơn.
Bệnh nhân ung thư nên dùng phương pháp thực dưỡng vì:
Phương pháp được khám phá và phát triển bởi giáo sư người Nhật có tên Sakurazawa Nyoichi (George Ohsawa). Nhà y triết lỗi lạc đề xướng và truyền bá từ đầu thế kỷ 20 và đã giúp nhiều người tự chữa lành bệnh kể cả những bệnh “nan y” và sống được hạnh phúc.
Ăn uống theo PP trường sinh OHSAWA rất giản dị, chúng ta chỉ cần hạt gạo lức, muối mè, một chút rau cải không dùng phân hoá học và thuốc trừ sâu và nước tương thiên nhiên (gạo lứt chiếm 60% trở lên). Khi ta ăn phải nhai kỹ, ăn ít và uống ít nước (nếu làm việc tay chân nhiều thì ta mới ăn nhiều). 
Ăn gạo lứt có các ưu điểm sau:
-Đầy đủ chất bổ dưỡng
-Phòng và Chữa được hầu hết các bệnh nan y – không dùng thuốc
-Giản dị trong việc bếp núc
-Thực hành được mọi lúc mọi nơi
Bản chất của phương pháp thực dưỡng là:
- Cân bằng Âm Dương trong cơ thể, mà bản chất là sử dụng các loại thức ăn có độ kiềm cao để nâng cao độ pH của cơ thể, từ đó ức chế sự nhân lên của tế bào ung thư.
Các bạn xem thêm Phương pháp thực dưỡng Oshawa trên website này, mục kiến thức sức khỏe. 

2.2. Bổ sung vitamin và khoáng chất chống oxy hóa, chống suy mòn cơ thể

Cơ thể cần phải bổ sung đầy đủ các vitamin và khoáng giúp tăng cường hệ miễn dịch, chống oxy hóa và cân bằng quá trình chuyển hóa các chất. Đặc biệt là Selenium, vitamin Avitamin Cvitamin E, Kẽm. Các sản phẩm có chứa là Vitamin A, C, E và Selenium của hãng Swanson  hoặc sản phầm Antiox của hãng Arkophama Cộng hòa Pháp.
Ngoài ra để chống lại sự suy mòn do ung thư, người bệnh có thể sử dụng thêm các chế phẩm có chứa EPA (Eicosapentaenoic Acid, là một hợp chất của acid béo Omega 3), liều dùng khuyến cáo tối đa tốt nhất là 2.000 mg/ngày. Việc sử dụng EPA có thể thay thế phần nào cho sữa Prosure rất đắt tiền hiện có bán tại các bệnh viện ung bướu. EPA làm giảm chứng suy mòn do ung thư, giảm các chứng viêm, tái tạo lại các khối cơ xương, tăng sức đề kháng cho bệnh nhân đang điều trị ung thư.
2.3. Cách làm tăng độ pH của cơ thể, kiềm chế sự phát triển của tế bào ung thư là: 

Sử dụng chất diệp lục (Chlorophyll). Tác dụng của việc sử dụng chất diệp lục gồm có: Cung cấp oxy cho tế bào, sửa chữa những tế bào bị tổn thương, cân bằng độ pH cho cơ thể, đào thải độc tố và chống độc cơ thể, bảo vệ đường tiêu hóa.

Uống dung dịch có chứa NaHCO3 với rỉ đường hoặc mật ong.
- Sử dụng các chế phẩm có chứa Canxi, Magie, potassium, kali, xêzi và rubidium. Thông thường và rẻ tiền nhất là sử dụng Canxi và Magie.

                                                                                                                                                                                              nguồn: thảo dược tốt.net

Bệnh học khác