MẤY NÉT ĐẠI CƯƠNG VỀ Y HỌC CỔ TRUYỀN

1.THUYẾT ÂM DƯƠNG .

Người xưa nhận thấy sự biến hóa không ngừng của sự vật và cơ cấu của sự biến hóa đó là : 

- Ức chế lẫn nhau , bổ trợ ,ảnh hưỡng lẫn nhau .

- Nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau .

Phàm những cái gì có tính cách : hoạt động , hưng phấn ,tỏ rõ ,ở mé ngoài ,hướng lên, tiến

lên,vô hình ,nóng nực , sáng chói,rắn chắc tích cực đều thuộc dương .

Tất cả những cái gì : trầm tĩnh , ức chế,mờ tối ,ở mé trong ,hướng xuống, lùi lại,hữu hình ,

lạnh lẽo, đen tối, nhu nhược ,tiêu cực 

đều thuộc âm . 

Trong con người :

- thuộc dương là : bên ngoài , sau lưng, phần trên ,lục phủ,khí ,vệ .

- Thuộc âm là : bên trong, trước ngực và bụng , phần dưới, ngũ tạng ,huyết ,vinh .

Về bệnh tật : những biểu hiện 

- thuộc dương : thường là khô khan ,táo, ôn nhiệt ,tiến mạnh ,hay động, cấp tính, kinh giật .

- thuộc âm : thường là ẩm thấp, nhuận, hàn lạnh, giảm thoái , trầm tĩnh, suy yếu .,mạn tính

,tê liệt .

Âm dương tuy hàm ý đối lập mâu thuẫn nhưng còn bao nhiêu hàm cả ý nghĩa nguồn góc ở

nhau mà ra , hổ trợ ức chế nhau tồn tại mà phát triển .

có người xưa nói : trong âm có dương  - trong dương củng có âm 

+ Âm đến cực độ sinh ra dương .

+ Dương đến cực độ sinh ra âm .

Tức là : hàn đến cực độ sinh ra nhiệt 

             nhiệt đến cực độ sinh ra hàn .

Thuyết âm dương đã được ông cha ta vận dụng trong lĩnh vực y dược :

1. Về phòng bệnh : cần nằm được quy luật biến hóa của tự nhiên , làm sao con người luôn

thích ứng với sự biến hóa đó , giữ được nhịp điệu thăng bằng , hòa hợp giữa con người với

ngoại cảnh ,sẽ giữ được sức khỏe tốt .

2. Về chẩn đoán và điều trị :

- Nhìn thấy (vọng ) : Bệnh nhân mặt đỏ , sắc mặt tươi , mắt sáng , da hồng nhuận , thì phần

lớn bệnh thuộc chứng dương . Nếu sắc mặt nhợt nhạt ,xám tối , hoặc xanh bầm , vàng đen

, mắt lờ đờ , cử đông chậm chạp thì bệnh  thuộc chứng âm .

- Nghe (văn ) : Bệnh nhân hơi thở mạnh , tiếng nói khõe khoắn , là bệnh thuộc dương , hơi

thở tiếng nói nhỏ yếu là bệnh thuộc âm .

- Khi hỏi (vấn ) : bệnh nhân cho biết có nóng sốt , khát , đòi uống nước , đại tiện táo bón nên

nghĩ đến bệnh thuộc chứng dương .

Trái lại bệnh nhân sợ rét lạnh , đại tiện lỏng , chân tay lạnh thì bệnh thuộc chứng âm .

- Khi bắt mạch ( thiết ) : Mạch phù ( nổi ) , đại ( to ), hoạt ( nhanh ) ,  là biểu hiện bệnh thuộc

dương .Ngược lại mạch trầm (sâu )vi ( nhỏ) , trì ( chậm )  thuộc mạch âm . 

Nhưng cũng có khi gặp bệnh biểu hiện như nhiệt  , chữa bằng thuốc hàn càng làm nóng thêm

, ta phải nghĩ tới âm hư và cần dùng thuốc bổ âm  . Cũng có trường hợp bệnh nhân như hàn

, chữa bằng thuốc có tính nóng càng làm bệnh nhân nặng rét hơn , đây là biểu hiện của dương

hư phải dùng thuốc trợ dương .

3. Vận dụng thuyết âm dương trong dùng thuốc :

các nhà đông y xưa chia tính năng thuốc ra tứ (4) khí , ngũ (5) vị và thăng giáng - phù trầm .

a .Tứ khí : Để chỉ tính chất của vị thuốc , đó là tính : hàn, nhiệt ,ôn, lương .

- hàn (lạnh) , lương ( mát ) , thuộc âm .

- nhiệt (nóng) , Ôn ( ấm) thuộc dương .

Ví dụ : mạch môn , hoàng liên ,qua lâu , rau má ...có tính mát để chữa các bệnh nhiệt , có tác

dụng thanh nhiệt lương huyết . Sa nhân , ngãi diệp , gừng ... tính nhiệt , ấm.. được dùng chữa

các bệnh hàn lương .

Ngoài ra thuốc y học cổ truyền có tính bình , không thiên về nhiệt cũng không nghiêng về hàn ,

làm nhiệm vụ hòa hoãn , nó cũng được xếp vào tứ khí . Chẳng hạn : bố chính sâm , tam thất ,

huyết giác ... là các vị thuốc tính bình ,

b. Ngũ vị : để chỉ mùi vị của thuốc , ngũ vị là :

- cây và ngọt làm cho phát tán là dương , nhạt làm cho tiêu thấp lợi tiểu thuộc dương .

- chua và đắng làm cho đi ngoài , nôn mữa  được là âm.

- Mặn làm mềm các khối kết cứng . đi xuống thuộc âm .

Ứng dụng trong y học cổ truyền , với những thuốc có vị : 

+ Cay : làm phát tán , làm lưu thông (hành) , có tác dụng làm toát mồ hôi , hành khí để chữa cá

bệnh về biểu ( bên ngoài cơ thể ) , và các chứng do khí tắc , huyết ứ .

+ Ngọt( cam) bổ , làm hòa hoãn , cụ thể là ích khí bổ huyết , giảm nhẹ cơn đau , co quắp , điếu

hòa tính vị các vị thuốc trong 1thang , ứng dụng chữa các chứng hư và vài chứng đau dẫn đến

co quắp . 

+ Chua : làm thu sáp , có tác dụng hãm mồ hôi , cầm tiêu chảy , cố tin ( giữ tinh khí ) , giảm đi

tiểu , dùng để chữa các chứng tự ra mồ hôi , tỳ hư đi lỏng lâu ngày , phế hư do ho kéo dài , thận

hư , di tinh , hoạt tinh , không làm chủ được tiểu tiện , đái dắt ...

+ Đắng ( khổ ) : có thể ,xổ tháo - dùng chữa các chứng bệnh tả nhiệt , tháo thấp , nóng đầu , bí

đại tiện hoặc thấp nhiệt sinh ra mụn nhọt .

+ Có thể làm mềm : , dẫn đi xuống , tác dụng làm mềm các khối kêt cứng , làm tan chỗ kết động

, nhuận tràng , thông đại tiện . Dùng chữa các chỗ kết thũng , bí tắc , táo bón .

Ngoài năm vị trên còn có vị nhạt( thuộc dương ) có thể thấm , có thể lợi - tác dụng làm thấm thấu

lợi niệu , dùng chữa chứng tiểu tiện ít , thủy thũng . 

c. Thăng giáng - phù trầm 

Đây là 2 khái niệm để chỉ 4 xu hướng tác dụng khác nhau của thuốc y học cổ truyền trên cơ thể ,

4 xu hướng đó là : 

- thăng : đi lên ( như nôn mữa , ợ , nấc , hen suyễn ).

- Giáng : đi xuống ( như tiêu chảy , băng huyết , lòi dom.. )

- Phù nổi lên , đi ra ( như phát sốt do khí dương vương , ra mồ hôi ) .

- Trầm : lặn vào , đi vào ( như đầy trướng bụng , đại tiện bí ,).

Thăng -phù là dương .

Giáng - trầm là âm 

nắm được quy luật này sẽ hiểu lý luận dùng thuốc y học cổ truyền .

II - THUYẾT NGŨ HÀNH .

Ngũ hành là : kim, mộc , thủy ,hỏa, thổ .

Người xưa cho rằng mọi vật trong vũ trụ đều do năm chất này phối hợp với nhau tạo nên , xét về

tính chất cũa ngũ hành thì 

-Kim : là kim loại , thuận chiều theo , hay thay đổi 

- Mộc : là cây là gỗ mọc lên thẳng hay công .

_ Thy là lỏng , là nước thì đi xuống , thấm xuống .

- Hỏa là lửa , là bùng cháy , bốc lên .

- Thổ là đất , để trồng trọt , gây gióng được . 

Tinh thần cơ bản của thuyết ngũ hành , gồm hai phương diện là : 

+ Tương sinh : giúp đỡ nhau , nương tựa nhau để sinh trưởng .

+ Tương khắc : chống lại nhau , ức chế nhau và thắng nhau .

Trong quan hệ tương sinh lại có tương khắc , biểu hiện tính thăng bằng giữ gìn lẫn nhau cùng tồn

tại và phát triển. 

NGŨ HÀNH là một học thuyết triết học , bao trùm mọi vận động của vật chất  trong vũ trụ . y dược

học cổ truyền đã biết vận dụng học thuyết ngù hành vào hình thái của từng bộ phận trong cơ thể

và  tính chất của từng vị thuốc đông theo mối

quan hệ tương sinh - tương khắc .

Dưới đây là bảng hệ thống một số hiện tượng và tính  chất trong y dược học cổ truyền  được quy

nạp vào các hành trong ngũ hành .

Dựa trên tính chất đã quy nạp , các  nhà   đông y xưa  vận dụng vào phép chữa bệnh và sử dụng

thuốc y học cổ truyền

phù hợp với luật Âm dương - hàn nhiệt - ngũ hành .

Bảng hệ thống quy nạp ngũ hành của một số hiện tượng .

Ngũ hành Mộc Hỏa  Thổ  Kim Thủy
Phương hướng  Đông  Nam Giữa Tây Bắc
Mùa  Xuân Hạ Cuối hạ Thu Đông
Khí  Gió Nóng Ẩm thấp Khô ráo  lạnh
Ngù tạng  Can (gan) Tâm(tim) Tỳ Phế  Thận
Lục phủ  Đởm (mật ) tiểu trường(ruột non) Đại trường (ruột già) Vị(dạ dày) Bàng quang 
    Tam tiêu      
Ngũ khiếu  Mắt Lưỡi Miệng Mũi  Tai
cơ thể gân(cân) Mạch  thịt  Da,lông Xương
Màu sắc Xanh Đỏ Vàng Trắng  Đen
Mùi vị  Chua Đắng Ngọt Cay Mặn


các cơ quan trong Các nhà đông y cổ truyền xưa còn tìm ra hệ thống đường kinh mạch ( 14 đường kinh mạch chính ),

cơ thể người có liên hệ chặt chẽ với 14 đường kinh mạch này , bao gồm :

- 6 kinh mạch ở tay là : 

Kinh thủ thái dương    còn gọi là      Tiểu trường .

Kinh thủ quyết âm     ...............    tâm bào lạc .

Kinh thủ dương minh .................    đại trường .

Kinh thủ thiếu dương .................  tam tiêu .

Kinh thủ thiếu âm ...................... tâm 

Kinh thủ thái âm    .......................   phế 

- 6 kinh ở chân là : 

Kinh túc thái dương ..............      bàng quang.

Kinh túc quyết âm    .............    can .

Kinh túc dương minh .............   vị .

Kinh  túc thiếu dương .............   đởm .

Kinh túc thiếu âm       ..............   thận .

Kinh túc thái âm        ...............  tỳ .

Và 2 đường kinh : 

Đốc mạch : kinh ở sau lưng .

Nhâm mạch : kinh ở phía bụng .

Quy kinh của  thuốc y học cổ truyền là để chỉ rõ mỗi loại thuốc y học cổ truyền tạo ra tác dụng trên mỗi

phủ tạng  nhất định của cơ thể .Khi quý kinh lương y còn xem xét tính được mùi vị , màu sắc của thuốc

phù hợp với đường kinh mạch của cơ thể . Chẳng hạn Ma hoàng vị cay , đắng tính ôn, màu vàng , vào

các kinh Tâm , Phế ,Bàng quang , Đại trường có tác dụng làm ra mồ hôi , lợi tiểu, đ ể chữa ho , trừ đờm

, viêm phế quản , hen suyễn... Thổ phục linh vị ngọt nhạt tính bình vào 2 kinh 

Can và Vị ,có tác dụng khử phong thấp , lợi gân cốt , giải độc , dùng chữa đau xương , u nhọt , tử uyển

, bạch quả ...quy vào kinh phế đều có tác dụng chữa bệnh ho hen. ..

Dưới đây là bảng tóm tắt quy kinh của thuốc y học cổ truyền :

  Mầu,Vị Ngù hành kinh mạch   Lục phủ
VỊ THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN CÓ MÀU & VỊ Xanh Mộc Túc quyết âm   Can
Chua Túc thiếu dương   Đờm
Đỏ Hỏa Tướng hỏa Thủ thiếu dương tam tiêu
Thủ quyết âm Tâm bào
Đắng Quân hỏa thủ thiếu âm Tâm
thủ thái dương Tiểu trường
Vàng Thổ Túc thái âm   Tỳ
Ngọt Túc dương minh   Vị
Trắng Kim thủ thái âm   Phế
Cay Thủ dương minh   Đại trường
Đen Thủy Túc thiếu âm   Thận
Mặn Túc thái dương   Bàng quang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


.Thuốc y học cổ truyền ng từng vị đơn lẽ hoặc phối hợp thành phương thang để chữa bệnh theo phương pháp " bệnh

chứng luận trị " của y học cổ truyền vẫn luôn thịnh hành và song song với y học hiện đại .

                                                                                                                               lương y:nguyễn thị thu thủy

 

 

 

 

 

Bệnh học khác